Vỏ đậu phộng khô

Vỏ đậu phộng là loại phế phụ phẩm của ngành đậu tương, dầu thực vật. Vỏ đậu được dùng để giữ ẩm, làm giá thể hoặc tạo độ thoáng cho đất để trồng các loại cây và hoa.

Vỏ đậu phộng khô chứa 60% chất xơ, 25% cellulose, 6% protein thô, 2% tro, 1% lipid, 8% nước.

Ngày xưa, người ta thường ủ gốc cây thanh long và một số cây trồng khác bằng rơm, nhưng giờ rơm ngày càng khang hiếm. Người nông dân dần chuyển sang vỏ đậu thay cho rơm để ủ gốc thanh long và các cây khác.

Làm giá thể trồng lan: vỏ đậu phộng (vỏ lạc) có hàm lượng đạm cao, chứa dinh dưỡng, nhẹ thoáng, xốp , giữ ẩm thường được trộn với các giá thể khác để trồng lan.

Bón ủ gốc thanh long: chứa nhiều lượng đạm và phân hủy lâu. Gía thể vỏ đậu thường được tận dụng bón vào các gốc cây thanh long.

 Làm giá thể , ủ gốc các cây trồng khác: tận dụng vỏ đậu bón các loại cây trồng khác thay cho rơm rạ, tiết kiệm chi phí, tận dụng nguồn vỏ lạc khi ngày càng khan hiếm rơm rạ.

Với giá thể vỏ đậu phộng và tưới phun sương ngày 2 lần, dưới ánh sáng tán xạ, phân bón (kể cả phân bón lá) và nước được cung cấp, dự trữ thường xuyên trong lớp vỏ đậu phộng mục khá dày nhưng rất thoáng khí, giúp hệ thống mô hút của rễ phát huy hết tác dụng hấp thu nước và dinh dưỡng, lan phát triển rất tốt.

Thông thường, các bô lọc sinh học đều dựa trên các vi khuẩn nấm Fusarium và vi khuẩn Brevibacterium. Mà đặc biệt vỏ đậu phộng lại là môi trường có thể chứa rất nhiều loại vi khuẩn này.

Các vi khuẩn này sẽ lấy đi các tạp chất độc trong không khí và chuyển đổi chúng thành CO2 và nước. Thêm vào đó, chính nhờ cấu tạo rỗng của vỏ đậu phộng mà chúng có thể tiếp xúc với khối lượng không khí nhiều hơn so với các loại hợp lọc thông thường.

DANH MỤC